Ngôi chùa có nhiều kỷ lục
Tọa lạc tại đường Trần Quang Khải (phường Hưng Long, TP.Phan Thiết),
chùa Phật Quang được xây dựng vào khoảng những năm đầu của thế kỷ 18.
Theo lịch sử, đây là thời điểm những người Việt đầu tiên đến vùng đất
Phan Thiết-Bình Thuận nên chùa xem là ngôi chùa lâu đời nhất của thành
phố biển Phan Thiết.
Đọc Tiếp...…
Với địa thế nằm giữa những
đồi cát đặc trưng miền biển cực Nam Trung bộ, chùa Phật Quang còn gần
gũi với người dân địa phương bằng tên gọi: Chùa Cát! Không chỉ là “cái
nôi” Phật giáo của Bình Thuận, lịch sử hình thành của chùa Phật Quang
còn gắn liền với những di sản văn hóa vô giá. Vừa có công xây dựng chùa,
3 vị Thiền sư người Trung Quốc là Ninh Dung, Thiết Huệ và Thiết Sắc còn
để lại chùa chiếc Đại Hồng Chung lớn đúc từ năm 1750 và bộ kinh Pháp
Hoa khắc gỗ đồ sộ và độc đáo. Mất 28 năm (từ 1706-1734) 3 vị Thiền sư
mới khắc xong bộ kinh Pháp Hoa gồm 118 bản gỗ thị huyết với 600.000 con
chữ và rất nhiều hình ảnh đức Phật thuyết pháp. Và bộ kinh vô giá này
được xác lập kỷ lục “xưa nhất Việt Nam” vào ngày 2/1/2006. Tiếp đó, vào
ngày 7/11/2006, chùa Phật Quang còn nhận thêm một kỷ lục là ngôi chùa có
“mõ gia trì lớn nhất Việt Nam”.
Trải qua rất nhiều lần trùng tu và sửa chữa, ngôi chùa cổ với nhiều nét kiến trúc đậm dấu ấn Phật giáo Trung Hoa với cổng tam quan, chùa tổ, chính điện, tháp chuông…chùa Phật Quang hôm nay vừa giữ lại những nét kiến trúc truyền thống, vừa mang những giá trị văn hóa Phật giáo lẫn miền biển đấy nắng gió. Lẫn giữa những nét đẹp của nghệ thuật chạm khắc độc đáo trong kiến trúc và trang trí, chùa Phật Quang còn hấp dẫn bởi những…cái nhất: chùa trang trí nhiều rồng nhất (166 con), trang trí nhiều hoa văn và phù điêu nhất, trong đó có những phù điêu trang trí khắc họa những thắng cảnh nổi tiếng của Phan Thiết và Việt Nam. Và mới đây nhất, vào ngày 24/10/2007, Công ty Kỷ lục Vietkings đã trao kỷ lục chùa có “mõ gia trì lớn nhất Việt Nam”.
Giữa không khí sôi động của một thành phố du lịch hôm nay, chùa Phật Quang vẫn trầm mặc và yên bình như hàng trăm năm qua nên thu hút rất đông tín đồ Phật tử và du khách khắp nơi tìm đến. Không chỉ thanh thản với những giây phút nghiêng mình bên đức Phật tại ngôi chùa xưa nhất, mà mọi người còn có dịp khám phá và chiêm ngưỡng những điều kỳ thú từ các di sản văn hóa vô giá cho đến lối kiến trúc của những tượng Phật và Bồ Tát xung quanh. Và sắp tới đây, khi chùa Phật Quang hoàn thành tòa Bảo Tháp Pháp Hoa cao 32m để thờ bộ kinh Pháp Hoa và “bộ sưu tập” 50.000 tượng Phật Di Lặc… không chỉ trở thành ngôi chùa với nhiều kỷ lục, mà chùa Phật Quang còn trở thành một điểm du lịch nổi tiếng mà mọi du khách không thể bỏ qua khi đến với thành phố biển xinh đẹp Phan Thiết!
Trải qua rất nhiều lần trùng tu và sửa chữa, ngôi chùa cổ với nhiều nét kiến trúc đậm dấu ấn Phật giáo Trung Hoa với cổng tam quan, chùa tổ, chính điện, tháp chuông…chùa Phật Quang hôm nay vừa giữ lại những nét kiến trúc truyền thống, vừa mang những giá trị văn hóa Phật giáo lẫn miền biển đấy nắng gió. Lẫn giữa những nét đẹp của nghệ thuật chạm khắc độc đáo trong kiến trúc và trang trí, chùa Phật Quang còn hấp dẫn bởi những…cái nhất: chùa trang trí nhiều rồng nhất (166 con), trang trí nhiều hoa văn và phù điêu nhất, trong đó có những phù điêu trang trí khắc họa những thắng cảnh nổi tiếng của Phan Thiết và Việt Nam. Và mới đây nhất, vào ngày 24/10/2007, Công ty Kỷ lục Vietkings đã trao kỷ lục chùa có “mõ gia trì lớn nhất Việt Nam”.
Giữa không khí sôi động của một thành phố du lịch hôm nay, chùa Phật Quang vẫn trầm mặc và yên bình như hàng trăm năm qua nên thu hút rất đông tín đồ Phật tử và du khách khắp nơi tìm đến. Không chỉ thanh thản với những giây phút nghiêng mình bên đức Phật tại ngôi chùa xưa nhất, mà mọi người còn có dịp khám phá và chiêm ngưỡng những điều kỳ thú từ các di sản văn hóa vô giá cho đến lối kiến trúc của những tượng Phật và Bồ Tát xung quanh. Và sắp tới đây, khi chùa Phật Quang hoàn thành tòa Bảo Tháp Pháp Hoa cao 32m để thờ bộ kinh Pháp Hoa và “bộ sưu tập” 50.000 tượng Phật Di Lặc… không chỉ trở thành ngôi chùa với nhiều kỷ lục, mà chùa Phật Quang còn trở thành một điểm du lịch nổi tiếng mà mọi du khách không thể bỏ qua khi đến với thành phố biển xinh đẹp Phan Thiết!
Chùa trên Lầu Ông Hoàng
Lầu Ông Hoàng được mệnh danh là “con mắt xanh” của thành phố Phan Thiết.
Cách thành phố 6 km về hướng Đông Bắc, nơi đây hiện vẫn còn lưu lại di
tích của một thời xa xưa cùng huyền thoại về một thi sĩ đa tài, bạc mệnh
làm quyến rũ hàng triệu trái tim du khách.
Đọc Tiếp...…
Tương truyền, ngày
26-12-1910, một ông Hoàng người Pháp, công tước De Montpensier, sang
Đông Dương du lịch, săn bắn và đã bị ngọn đồi “chinh phục”. Ông nảy sinh
ý tưởng xây dựng một ngôi dinh thự trên ngọn đồi tuyệt vời này. Nguyện
vọng đó đã được nhà cầm quyền Pháp ở Bình Thuận chấp thuận và bán ngọn
đồi Bà Nài cho ông. Cuối tháng 2 năm sau, vị công tước cho khởi công xây
dựng ngôi dinh thự trong diện tích 536m2, cách nhóm tháp Pô-Sha-Nư 100 m
về hướng Nam, bao gồm 13 phòng với những tiện nghi hiện đại và sang
trọng vào loại bậc nhất thời bấy giờ. Từ đó, nhân dân trong vùng quen
gọi ngọn đồi với cái tên của chủ nhân nó: Lầu Ông Hoàng. Mấy chục năm
sau, thi sĩ Hàn Mặc Tử đã đến địa danh này và để lại những câu chuyện
tình cảm động khiến cho Lầu Ông Hoàng càng tăng thêm tính huyền thoại,
nhất là vào những đêm trăng:
Ta lang thang tìm tới chốn lầu trăng
Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! Là Phan Thiết! Phan Thiết!
Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi…
Hiện nay, Lầu Ông Hoàng bao gồm một quần thể núi đồi, sông, biển, chùa tháp tạo thành một thắng cảnh nổi tiếng của đất Bình Thuận. Từ xa xưa, ngọn đồi là nơi ngự trị của nhóm tháp cổ Pô-Sha-Nư, nơi thờ các tiểu tiên nữ con gái thần mẹ Pô Nagar. Tuyệt tác của dân tộc Chăm hiện nay chỉ còn lại ba ngôi tháp và nhiều thân tháp khác bị đổ chỉ còn lại những nền móng, phế tích. Ba ngôi tháp phân bổ trên hai tầng đất, quay mặt về hướng biển - những ngọn tháp vuông nhiều tầng, có niên đại từ thế kỷ thứ VIII, thuộc phong cách nghệ thuật Hòa Lai, một loại hình tháp Khmer thời Chân Lạp.
Có lẽ những di tích và huyền thoại kia to lớn đến độ che lấp cả một ngôi chùa cổ được mệnh danh là “ngự tứ” nằm ngay trên tầng đất thứ hai của ngọn đồi. Ngôi chùa được xây dựng từ năm nào không rõ, có lẽ vào khoảng 200 năm sau thời kỳ mở đất Bình Thuận, khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Chùa được vua Gia Long ngự ban cho danh hiệu “Ngự tứ Bửu Sơn tự”. Chùa quay mặt về thành phố Phan Thiết, hướng cửa biển Phú Hài quanh năm lộng gió, lưng đấu với một trong ba ngôi tháp cổ Pô-Sha-Nư. Đứng trên chùa, du khách có thể nhìn bao quát về thành phố Phan Thiết - buổi chiều, thành phố đẹp như một bài thơ; buổi sáng, nhìn về phía biển, biển rực hồng tuyệt đẹp. Nhất là vào những đêm rằm, chùa “dào dạt ánh trăng thanh” - như câu thơ của thi sĩ Huyền Không ngày nào.
Chùa Bửu Sơn khá nhỏ, nhìn từ xa không có gì ấn tượng, ngoại trừ những pho tượng lộ thiên màu trắng, nổi bật lên bởi ngọn tháp cổ màu đất nung đỏ rực phía sau làm nền. Chính điện thờ Phật Thích Ca và những pho tượng cổ hiện nay đã mất do một thời gian dài chiến tranh và vắng bóng trụ trì. Năm 1950, chùa bị phá hủy hoàn toàn bởi bom đạn. Đến năm 1954, hai Phật tử Phạm Khắc Minh và Nguyễn Thanh Vân xây dựng lại với kiến trúc như hôm nay. Năm 1958, chùa thành lập Gia đình Phật tử Thiện Chánh do ông Lâm Vĩnh Bá tổ chức. Năm 1961, bổn đạo và ông Lâm Vĩnh Bá trùng tu lại chùa, dựng pho tượng Quán Thế Âm lộ thiên quay mặt về hướng biển như sẵn lòng phù hộ cho ngư dân quanh vùng Phú Hài…
Bên cạnh chùa hiện nay vẫn còn một ngôi tháp nhỏ hai tầng, không biết là của vị tổ sư nào. Bởi chùa đã trải qua nhiều đời trụ trì và những đời trụ trì đầu không còn biết rõ thời gian, như: Hòa thượng Hoằng Phúc, Đại sư Tâm Quảng. Trong vòng 10 năm, từ 1964 đến 1974, chùa trải qua đến 7 đời trụ trì và không có vị nào trụ trì được quá 3 năm! Vị trụ trì hiện nay còn khá trẻ, ĐĐ Thích Nguyên Sắc, sau khi tốt nghiệp trường Trung cấp Phật học tỉnh Bình Thuận năm 2000, thầy đã được bổ nhiệm về trụ trì chùa Bửu Sơn cho đến nay.
Hiện tại, chùa đang được ĐĐ Nguyên Sắc tu bổ nhẹ. Hầu như không thừa hưởng những “di sản” trước đó bao nhiêu ngoài ngôi chùa cổ và một bộ phan bằng gỗ khắc danh hiệu của những vị Bồ tát - được xem là một vật quý, độc đáo và đặc sắc - ĐĐ Nguyên Sắc hầu như phải gầy dựng lại từ đầu, từ việc tạo cảnh quan chùa cho đến tạo không khí sinh hoạt tín ngưỡng, tu tập cho Phật tử đến chùa tụng kinh, lễ Phật. Ước mong của vị ĐĐ trẻ này là làm sao cho ngôi chùa là một điểm đến tâm linh của du khách khi hành hương Phan Thiết. Đặc biệt vào mùa nắng hạn, “con mắt xanh” của Phan Thiết như khép lại, để trơ một ngọn đồi khô khốc, nên việc trồng cây xanh quanh chùa là một việc làm thiết thực và khẩn cấp.

Ngày nay, khi nhắc đến nhóm di tích Lầu Ông Hoàng, người ta không thể không nhắc đến ngôi chùa Bửu Sơn. Tuy nhiên, để ngôi chùa thực sự là một điểm đến của du khách, thiết tưởng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh cần phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Bình Thuận tôn tạo lại cảnh quan ngôi chùa cổ “ngự tứ”, nhất là việc xin phép dựng lại pho tượng Quan Âm đã bị đổ nát trên đỉnh đồi để khu di tích bớt lạnh lẽo và hoang phế thêm.
Ta lang thang tìm tới chốn lầu trăng
Lầu Ông Hoàng người thiên hạ đồn vang
Nơi đã khóc, đã yêu thương da diết
Ôi trời ôi! Là Phan Thiết! Phan Thiết!
Mà tang thương còn lại mảnh trăng rơi…
Hiện nay, Lầu Ông Hoàng bao gồm một quần thể núi đồi, sông, biển, chùa tháp tạo thành một thắng cảnh nổi tiếng của đất Bình Thuận. Từ xa xưa, ngọn đồi là nơi ngự trị của nhóm tháp cổ Pô-Sha-Nư, nơi thờ các tiểu tiên nữ con gái thần mẹ Pô Nagar. Tuyệt tác của dân tộc Chăm hiện nay chỉ còn lại ba ngôi tháp và nhiều thân tháp khác bị đổ chỉ còn lại những nền móng, phế tích. Ba ngôi tháp phân bổ trên hai tầng đất, quay mặt về hướng biển - những ngọn tháp vuông nhiều tầng, có niên đại từ thế kỷ thứ VIII, thuộc phong cách nghệ thuật Hòa Lai, một loại hình tháp Khmer thời Chân Lạp.
Có lẽ những di tích và huyền thoại kia to lớn đến độ che lấp cả một ngôi chùa cổ được mệnh danh là “ngự tứ” nằm ngay trên tầng đất thứ hai của ngọn đồi. Ngôi chùa được xây dựng từ năm nào không rõ, có lẽ vào khoảng 200 năm sau thời kỳ mở đất Bình Thuận, khoảng cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Chùa được vua Gia Long ngự ban cho danh hiệu “Ngự tứ Bửu Sơn tự”. Chùa quay mặt về thành phố Phan Thiết, hướng cửa biển Phú Hài quanh năm lộng gió, lưng đấu với một trong ba ngôi tháp cổ Pô-Sha-Nư. Đứng trên chùa, du khách có thể nhìn bao quát về thành phố Phan Thiết - buổi chiều, thành phố đẹp như một bài thơ; buổi sáng, nhìn về phía biển, biển rực hồng tuyệt đẹp. Nhất là vào những đêm rằm, chùa “dào dạt ánh trăng thanh” - như câu thơ của thi sĩ Huyền Không ngày nào.
Chùa Bửu Sơn khá nhỏ, nhìn từ xa không có gì ấn tượng, ngoại trừ những pho tượng lộ thiên màu trắng, nổi bật lên bởi ngọn tháp cổ màu đất nung đỏ rực phía sau làm nền. Chính điện thờ Phật Thích Ca và những pho tượng cổ hiện nay đã mất do một thời gian dài chiến tranh và vắng bóng trụ trì. Năm 1950, chùa bị phá hủy hoàn toàn bởi bom đạn. Đến năm 1954, hai Phật tử Phạm Khắc Minh và Nguyễn Thanh Vân xây dựng lại với kiến trúc như hôm nay. Năm 1958, chùa thành lập Gia đình Phật tử Thiện Chánh do ông Lâm Vĩnh Bá tổ chức. Năm 1961, bổn đạo và ông Lâm Vĩnh Bá trùng tu lại chùa, dựng pho tượng Quán Thế Âm lộ thiên quay mặt về hướng biển như sẵn lòng phù hộ cho ngư dân quanh vùng Phú Hài…

Bên cạnh chùa hiện nay vẫn còn một ngôi tháp nhỏ hai tầng, không biết là của vị tổ sư nào. Bởi chùa đã trải qua nhiều đời trụ trì và những đời trụ trì đầu không còn biết rõ thời gian, như: Hòa thượng Hoằng Phúc, Đại sư Tâm Quảng. Trong vòng 10 năm, từ 1964 đến 1974, chùa trải qua đến 7 đời trụ trì và không có vị nào trụ trì được quá 3 năm! Vị trụ trì hiện nay còn khá trẻ, ĐĐ Thích Nguyên Sắc, sau khi tốt nghiệp trường Trung cấp Phật học tỉnh Bình Thuận năm 2000, thầy đã được bổ nhiệm về trụ trì chùa Bửu Sơn cho đến nay.
Hiện tại, chùa đang được ĐĐ Nguyên Sắc tu bổ nhẹ. Hầu như không thừa hưởng những “di sản” trước đó bao nhiêu ngoài ngôi chùa cổ và một bộ phan bằng gỗ khắc danh hiệu của những vị Bồ tát - được xem là một vật quý, độc đáo và đặc sắc - ĐĐ Nguyên Sắc hầu như phải gầy dựng lại từ đầu, từ việc tạo cảnh quan chùa cho đến tạo không khí sinh hoạt tín ngưỡng, tu tập cho Phật tử đến chùa tụng kinh, lễ Phật. Ước mong của vị ĐĐ trẻ này là làm sao cho ngôi chùa là một điểm đến tâm linh của du khách khi hành hương Phan Thiết. Đặc biệt vào mùa nắng hạn, “con mắt xanh” của Phan Thiết như khép lại, để trơ một ngọn đồi khô khốc, nên việc trồng cây xanh quanh chùa là một việc làm thiết thực và khẩn cấp.

Ngày nay, khi nhắc đến nhóm di tích Lầu Ông Hoàng, người ta không thể không nhắc đến ngôi chùa Bửu Sơn. Tuy nhiên, để ngôi chùa thực sự là một điểm đến của du khách, thiết tưởng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh cần phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Bình Thuận tôn tạo lại cảnh quan ngôi chùa cổ “ngự tứ”, nhất là việc xin phép dựng lại pho tượng Quan Âm đã bị đổ nát trên đỉnh đồi để khu di tích bớt lạnh lẽo và hoang phế thêm.
Chùa Pháp Võ - Một thắng cảnh đẹp của Bình Thuận
Nằm trên hệ thống núi đá thuộc xã Vĩnh Hảo, huyện Tuy Phong, cách thị trấn Liên Hương khoảng 12 km về hướng bắc, chùa Pháp Võ (thường gọi chùa Đá Mẹp) là danh lam thắng cảnh của huyện Tuy Phong.
Đây còn được xem là nơi linh thiêng của các tín đồ Phật giáo và họ thường xuyên đến cúng lễ, cầu nguyện vào các ngày lễ, rằm và mồng một. Ngày Tết và các ngày rằm lớn, rất đông khách hành hương đến từ Phan Thiết, Phan Rang và cả TP.HCM... Điều thuận lợi xe vào tận chân núi, chỉ cần đi bộ leo núi đá khoảng 10 phút tới hang Tổ. Tuy vậy nhưng chưa có sử sách hoặc báo chí viết về chùa này, có lẽ vì nơi đây vẫn còn là vùng sâu, vùng xa, ít ai biết đến.
Vào đến Khu du lịch Tắm khoáng - tắm bùn của Công ty cổ phần Nước khoáng Vĩnh Hảo, nhìn xa xa về hướng tây trên đường vào chùa, chúng ta thấy rõ hệ thống núi đá trùng điệp như trong tranh vẽ và phim Tây Du Ký vậy. Cảnh vật nơi đây thật là “sơn thủy hữu tình”. Hai bên đường vào chùa là khu rừng thưa, cây nhỏ, nhưng có các loài hoa rừng tuyệt đẹp.
Chùa Pháp Võ không lớn, nhưng cảnh vật xung quanh thật thơ mộng và hùng vĩ, các tảng đá lớn, nhỏ chồng lên nhau tạo thành các hang đá tuyệt mỹ. Hang đá lớn nhất dùng để thờ Phật Tổ Như Lai, kế bên hang Tổ có phòng khách và phòng ngủ rộng thênh thang, tha hồ mắc võng. Bên chánh điện thờ Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Âm và Tam Tạng, có miếu thờ Quan Công và các hang đá nhỏ hơn thờ các vị thần khác nhau. Trước và bên hông chùa có tượng Phật Bà Quan Âm đứng lớn. Đi bộ qua hang đá hẹp, leo lên độ cao trên 100m có tượng Phật Bà Quan Âm đứng sừng sững giữa lưng chừng núi, trên một tảng đá lớn, cao gần 10 m. Đứng trên chánh điện và hang Tổ nhìn ra biển Cà Ná, đảo Cù Lao Câu một màu xanh biếc thật tuyệt vời. Nếu chúng ta có dịp nghỉ lại qua đêm thú vị hơn nữa. Màn đêm buông xuống giữa khu rừng già có ánh điện lung linh của máy nổ như một hòn ngọc lạc giữa chốn sơn lâm. Ngồi bên hang Tổ nhìn ra biển, vị sư già trụ trì chùa sẽ cho chúng ta thưởng thức món trà xanh tuyệt hảo, ai có bệnh thì sẽ được bốc thuốc nam biếu không lấy tiền. 21 giờ tất cả cùng ngồi thiền với vị sư già để chiêm ngưỡng và hòa quyện tâm hồn vào núi rừng thiêng âm u, tĩnh mịch… Theo vị sư này thì có truyền thuyết rằng, ngày xưa có lúc bị hạn hán nặng, người dân đã tụ họp về đây rất đông để làm lễ cầu mưa. Đang lúc làm lễ thì bất ngờ mây đen kéo đến rợp trời, một cơn mưa như trút nước làm nức lòng dân, vì vậy xa xưa chùa này có tên là Pháp Vũ, sau đổi thành Pháp Võ.
Thăm những pho tượng lớn nhất Việt Nam
Dù được tạc bằng đá, đúc bằng đồng hay bê tông, những pho tượng này vẫn tạo nên ấn tượng khó quên cho du khách.
Đọc Tiếp...…
Pho tượng nằm dài nhất
Với
chiều cao 13m, dài 49m, tượng Phật Thích ca nhập niết bàn với thế nằm
nghiêng gối đầu lên tay, mặt quay về hướng Nam, toạ lạc trên đỉnh núi Tà
Cú là bức tượng phật nằm dài nhất Việt Nam và Đông Nam Á. Tượng do kiến
trúc sư Trương Đình Ý xây dựng từ năm 1959 và hoàn thành năm 1962.
Có
hai cách để lên đỉnh núi chiêm bái tượng là đi bộ hoặc cáp treo. Mỗi
cách sẽ mang lại cho bạn một ấn tượng, song nếu có thể nên kết hợp là đi
lên bằng cáp, đi xuống bằng bậc thang. Ngoài tượng Phật nằm, du khách
còn có thể chiêm bái các bức tượng khác thuộc ngôi cổ tự Linh Sơn Trường
Thọ (cũng trên đỉnh núi), hay trải nghiệm chuyến khám phá các truyền
thuyết kì bí của hang Tổ.
Pho tượng bằng đồng nặng nhất
Danh
hiệu này thuộc về pho tượng Thích Ca Mâu Ni bằng đồng nguyên khối dát
vàng, cao 10m, nặng 100 tấn ở chùa Bái Đính, xã Gia Sinh, Gia Viễn -
Ninh Bình, và đã được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam cấp bằng xác nhận
kỷ lục “Pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam”.
Pho
tượng này do các nghệ nhân đúc đồng thôn Thượng Đồng, xã Yên Tiến,
huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định đúc, được đỡ bởi khung bê tông cốt thép giả
gỗ cao đến nóc gần 30 m, dài 44,7 m, rộng 43,3m.
Ngoài
kỷ lục nói trên, trung tâm này cũng xác nhận nhận hàng loạt các danh
hiệu kỷ lục khác cho chùa Bái Đính như Bức tượng Phật Di Lặc bằng đồng
lớn nhất, bộ tượng A Nan - Ca Diếp bằng đồng lớn nhất (mỗi tượng nặng 30
tấn, cao 9m, đặt tại điện thờ Giáo chủ Thích ca Mâu ni), chuông đồng
lớn nhất (nặng 30 tấn), giếng Ngọc lớn nhất (đường kính 35m), tượng ông
Thiện và ông Ác bằng đồng cao và nặng nhất (đặt nơi cổng tam quan chùa
Bái Đính, mỗi pho nặng 20 tấn, cao 5,2m), tượng Quan Thế Âm thiên thủ
thiên nhãn bằng đồng dát vàng lớn nhất (nặng 80 tấn, cao 9,57m tính cả
bệ), bộ tượng Tam thế bằng đồng lớn nhất (mỗi pho nặng 50 tấn). Đây còn
là ngôi chùa lớn nhất và có nhiều tượng nhất Việt Nam.
Pho tượng bằng đá lớn nhất
Đại
Phật tượng bằng đá cao 27m, nặng 3.000 tấn đặt trên đỉnh núi đầu tiên
phát tích đạo Phật ở Việt Nam (núi Phật tích, Bắc Ninh), được xem như kỳ
quan mới trên quê hương của các vua Lý. Tượng được tạc dựa trên nguyên
mẫu tượng A Di Đà, là một trong những bảo vật từ thời nhà Lý.
Chùa
Phật Tích còn là di tích lịch sử văn hóa quốc gia và là di tích tiêu
biểu nhất chứa đựng các giá trị văn hóa, mỹ thuật thời Lý. Ngoài hai bức
tượng phật A Di Đà bằng đá có từ thời Lý và Đại Phật tượng mới xây
dựng, đây còn là nơi lưu duy nhất lưu giữ những linh thú với 5 cặp đối
xứng là sư tử, voi, ngựa, trâu, tê giác vốn là các di vật của đời Lý.
Tượng Phật bà Quan Âm cao nhất
Ngoài
việc được biết đến như một ngôi chùa đẹp, lớn và… trẻ nhất trong 3 ngôi
“Linh Ứng Tự” ở Đà Nẵng, Linh Ứng Bãi Bụt nằm ở lưng chừng núi Sơn Trà
còn được biết đến với tên nơi có tượng Phật Quan Thế Âm cao nhất Việt
Nam.
Pho
tượng Phật bà Quan Âm ở đây cao 67m, đường kính toà sen 35m do điêu
khắc gia Thụy Lam và điêu khắc gia Châu Viết Thạnh thi công trong 5 năm.
Tượng
đứng tựa lưng vào núi, hướng ra biển, một tay bắt ấn tam muội, tay kia
cầm bình nước cam lồ như rưới an bình cho những ngư dân đang lênh đênh
trên biển kiếm sống.
Trên
mũ tượng Quan Âm có tượng Phật Tổ cao 2m. Trong lòng tượng có 17 tầng,
mỗi tầng đều có bệ thờ tổng cộng 21 bức tượng Phật với hình dáng, vẻ
mặt, tư thế khác nhau, gọi là “Phật trung hữu Phật”.
Đến
đây, ngoài chiêm bái công trình, từ vị trí của tượng, du khách còn
chiêm ngưỡng vẻ đẹp khác của Đà Nẵng, với phía trước là vịnh Đà Nẵng đẹp
như tranh, bên phải là một phần bán đảo Sơn Trà trầm mặc, xa xa là Ngũ
Hành Sơn, Cù Lao Chàm bềnh bồng trong mây. Bạn cũng có thể tham gia khám
phá núi rừng nguyên sinh của Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà phía sau
chùa.
Tượng chúa Giê Su lớn nhất
Được
xem là một phiên bản của bức tượng Đức Chúa dang tay tại thành phố Rio
de Janeiro, với chiều cao 32m, sải tay 18,3m, tượng Chúa Giê Su trên
đỉnh Núi Nhỏ (Vũng Tàu) được đánh giá là bức tượng chúa lớn nhất Việt
Nam và thế giới.
Tượng
Chúa cao 176m so với mực nước biển và đặt trên một bệ bê-tông có bốn
góc tạo hình cánh cung cao 10m. Mặt trước bệ được trang trí bằng bức phù
điêu phỏng theo tác phẩm nổi tiếng của danh họa Ý Leonardo da Vinci
“Bữa tiệc ly”. Mặt sau là bức tranh “Chúa trao chìa khóa cho thánh
Phêrô”.
Bên
trong tượng có cầu thang xoắn ốc đi từ chân tượng lên tới đỉnh. Lòng
tượng được chiếu sáng nhờ hệ thống cửa sổ hình chữ “Thọ” trang trí trên
áo.
Một cầu thang gồm 133 bậc tam cấp trong lòng tượng dẫn du khách lên tận cánh tay của tượng Chúa. Hai bên vai và tay áo tượng được thiết kế như hai ban công với sức chứa khoảng 6 du khách mỗi bên.
Đứng tại đây, du khách có thể ngắm bờ biển Vũng Tàu xanh ngát hay tận hưởng những ngọn gió biển mát rượi. Hai bàn tay tượng Chúa Kitô dài tới 2,2m, ngón giữa dài 1,1m có 9 tia hào quang làm bằng kim loại vừa trang trí vừa có tác dụng thu lôi.
Một cầu thang gồm 133 bậc tam cấp trong lòng tượng dẫn du khách lên tận cánh tay của tượng Chúa. Hai bên vai và tay áo tượng được thiết kế như hai ban công với sức chứa khoảng 6 du khách mỗi bên.
Đứng tại đây, du khách có thể ngắm bờ biển Vũng Tàu xanh ngát hay tận hưởng những ngọn gió biển mát rượi. Hai bàn tay tượng Chúa Kitô dài tới 2,2m, ngón giữa dài 1,1m có 9 tia hào quang làm bằng kim loại vừa trang trí vừa có tác dụng thu lôi.
Tượng gà lớn nhất Việt Nam
(Ảnh: Vietnamnet)
|
Với
những chỉ số ấn tượng, bức tượng gà trống bằng bê tông đang vươn cổ gáy
cao 3,2m, nặng khoảng 8 tấn giữa làng K’Long, thôn Darahoa, xã Hiệp An,
huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng được xem là pho tượng con vật lớn nhất
Việt Nam
Bức
tượng khổng lồ này được thiết kế và xây dựng từ năm 1978 đến năm 1979
do kiến trúc sư Lữ Trúc Phương thiết kế, nhà điêu khắc Thụy Lam tạc
tượng, Sở Thủy lợi Lâm Đồng thi công. Ý tưởng xây tượng con gà xuất phát
từ đề tài cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số.
LIÊN TRÌ, NGÔI CHÙA 264 TUỔI
Năm 1740 đời vua Lê Cảnh Hưng , trong một vùng rừng tre um tùm rậm rạp
tại thôn Long Đàm thuộc tổng Trung huyện Hòa Đa xứ Phan Thiết phủ Bình
Thuận ngày ấy, những người sùng bái đạo Phật đã cùng nhau dựng lên một
ngôi chùa bằng tranh tre để thờ Đức Phật A Di Đà, tục danh nôm na là
Chùa Tre. 43 năm sau, trên đường bôn tẩu vô Nam, vua Gia Long có ghé qua
Chùa Tre, thấy chùa chưa có tên, Vua bèn đặt cho tên Liên Trì tức “ao
sen”, xem nơi đây như chốn cảnh giới cực lạc của Đức Phật và tiếp rước
chúng sinh sau khi lâm chung.
Đọc Tiếp...…
Trong khoảng từ năm
1804-1810, vị Hòa Thượng Đạo Chơn-Quang Huy từ Phú Yên vào Bình Thuận,
được dân làng cung thỉnh trụ trì tại chùa, ông đã cho đúc quả Đại Hồng
Chung bằng đồng cao 1,5m vào năm Bính Tý 1812, hiện vẫn còn lưu giữ tại
chùa. Sau khi Hòa Thượng Quang Huy viên tịch, Hòa Thượng Đạo Tín-Hải
Chấn kế tục, ông là người không chỉ có công đầu trong truyền bá và giảng
dạy khoa “Nghi ứng phú đạo tràng” (một hình thức nghi lễ tán tụng của
Phật giáo) một cách qui mô ở Bình Thuận mà còn có công cải biên âm điệu
tang đẩu (một loại hình âm nhạc nghi lễ Phật giáo) của Phú Yên thành âm
điệu tang đẩu riêng của Bình Thuận. Đến năm 1855, chùa được trùng tu lần
thứ nhất, xây gạch lợp ngói âm dương, có kiến trúc theo hình chữ
“khẩu”, tiền Phật hậu Tổ, hai nhà nghỉ hai bên hành lang đông tây.
Trường tồn trong 264 năm cùng sự đi lên của Bình Thuận với 23 đời trụ trì và 3 lần trùng tu, đến nay Liên Trì Tự vẫn giữ được dáng nét của ngôi chùa cổ xưa, không chỉ là một cảnh trí đẹp trên địa bàn khu phố 6 phường Đức Nghĩa (số 3 Nguyễn Văn Cừ-Phan Thiết), giúp các ni sư phật tử vãn chùa có những phút thư giãn tịnh tâm, mà chùa Liên Trì còn là ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Bình Thuận còn lưu giữ khá nhiều cổ vật của Phật Giáo như quả Đại Hồng Chung, một số tượng cổ của Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, Bồ Tát Quán Thế Âm cùng các thánh hiền, đặc biệt là 3 pho tượng cổ Phật tam thân bằng đồng, một chuông gia trì đời Tự Đức, một bảo chứng, nhiều pháp khí cổ cùng một số liễn đối có giá trị khác. Ngày 17 tháng Mười Giáp Thân tới đây (nhằm ngày 28/11/2004), giới Phật giáo Bình Thuận sẽ trang trọng tổ chức lễ kỷ niệm 264 năm ngày dựng lập nên chùa Liên Trì.
Trường tồn trong 264 năm cùng sự đi lên của Bình Thuận với 23 đời trụ trì và 3 lần trùng tu, đến nay Liên Trì Tự vẫn giữ được dáng nét của ngôi chùa cổ xưa, không chỉ là một cảnh trí đẹp trên địa bàn khu phố 6 phường Đức Nghĩa (số 3 Nguyễn Văn Cừ-Phan Thiết), giúp các ni sư phật tử vãn chùa có những phút thư giãn tịnh tâm, mà chùa Liên Trì còn là ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Bình Thuận còn lưu giữ khá nhiều cổ vật của Phật Giáo như quả Đại Hồng Chung, một số tượng cổ của Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, Bồ Tát Quán Thế Âm cùng các thánh hiền, đặc biệt là 3 pho tượng cổ Phật tam thân bằng đồng, một chuông gia trì đời Tự Đức, một bảo chứng, nhiều pháp khí cổ cùng một số liễn đối có giá trị khác. Ngày 17 tháng Mười Giáp Thân tới đây (nhằm ngày 28/11/2004), giới Phật giáo Bình Thuận sẽ trang trọng tổ chức lễ kỷ niệm 264 năm ngày dựng lập nên chùa Liên Trì.
Có một "ngôi chùa đá" cổ nhất tại Bình Thuận
Cổ Thạch Tự có nghĩa là "chùa
đá xưa", còn có tên gọi mộc mạc dân dã là "chùa Hang"- một trong những
danh thắng nổi tiếng ở phía Bắc tỉnh Bình Thuận và khu vực miền Nam. Ngự
trong những hang động trên đồi núi thấp ở độ cao hơn 64m so với mặt
biển, chùa Hang thấp thoáng ẩn hiện như một chốn "bồng lai" xa mờ…
Quá khứ vẫn còn mãi với thời gian Theo vị sư già Thích Quảng Đức trụ trì ở chùa đá xưa, dưới Triều Nguyễn khoảng cuối thế kỷ XIX, thì chùa Hang thuộc Bình Thuận phủ, Tuy Phong huyện, Bình Thạnh thôn, nay là xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
Đọc Tiếp...…
Quá khứ vẫn còn mãi với thời gian Theo vị sư già Thích Quảng Đức trụ trì ở chùa đá xưa, dưới Triều Nguyễn khoảng cuối thế kỷ XIX, thì chùa Hang thuộc Bình Thuận phủ, Tuy Phong huyện, Bình Thạnh thôn, nay là xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
Chùa
cách thị xã Phan Thiết 98km về phía Bắc, cách thị trấn Liên Hương 8km
về phía Đông. Phía Đông Nam của chùa giáp với biển Đông, ba mặt còn lại
là rừng núi và những dải đá nguyên sinh tuyệt đẹp. Cổ Thạch Tự mang một
vẻ đẹp nguyên sơ độc đáo, gối đầu trên vùng đồi núi với hàng ngàn phiến
đá và hang động muôn màu đa dạng vô cùng huyền bí. Nơi đây quanh năm
chan hòa ánh nắng, khí hậu mát mẻ trong lành được chắt lọc bởi những
luồng gió biển mặn mà, mát lạnh. Tất cả tạo nên một thiên cảnh trầm lặng
lý tưởng cho việc tu hành của các nhà sư và trở thành điểm du lịch thú
vị cho người phàm trần.Ngược
dòng thời gian trở về những năm 1835 - 1836, lúc ấy có vị Thiền sư Bảo
Tạng tìm đến Bình Thạnh lấy việc đạo hạnh, tu tịnh để cứu vớt người đời
khỏi bể trầm luân trong lúc xã hội phong kiến Triều Nguyễn nhiễu loạn
quá nhiều mâu thuẫn. Ông đã chọn địa điểm khai lập nên Cổ Thạch Tự và
trụ trì nơi đây 5 năm. Sau đó, vị Thiền sư giao chùa cho các đệ tử trông
coi, ông tiếp tục độc hành vào phía Nam của tổ quốc và dừng chân ở miền
Đông Nam Bộ (Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu). Để tưởng nhớ công lao của
vị Thiền sư Bảo Tạng có công khai sơn lập nên Cổ Thạch Tự, nhà chùa lấy
ngày 25.05 làm ngày giỗ Tổ hàng năm. Gần
170 năm đã trôi qua, Cổ Thạch Tự từ một thảo am nhỏ đã được tôn tạo
theo thời gian và mở rộng thêm một số công trình phụ cảnh để phục vụ cư
dân bản địa và khách du lịch. Vẻ đẹp thiên nhiên hiếm có của chùa từ
lâu đã trở nên nổi tiếng được nhiều người khắp nơi biết đến, khách du
lịch thường xuyên hành hương về chùa viếng Phật và tham quan.
Hiện thực và huyền thoại
Ngôi
chùa sừng sững, nổi bật trên cao giữa bầu trời xanh lộng gió. Ngược
lại, ngay phía dưới chân chùa là đại dương mênh mông mờ ảo tạo nên một
cảnh quan sơn thủy hữu tình. Hình thể các công trình kiến trúc từ Tam
quan đến Ngọ môn, lầu Chuông, gác Trống, Chính điện nhà thờ Phật Tổ…và
các công trình khác của chùa thể hiện nghệ thuật tạo dáng tinh tế nơi
cổ tự. Đặc biệt, đập ngay vào ánh nhìn của du khách là hình tượng “tứ
linh” Long, Lân, Quy, Phụng, nét đặc trưng trong kiến trúc tôn giáo,
cung đình được thể hiện trên mái chùa và nhiều nơi tôn nghiêm nhất.
Lối
vào chùa qua cổng Tam quan quay về phía Tây Nam là con đường có 36 bậc
thang được gắn kết với nhau bằng phiến thạch. Dưới chân bậc thang là đôi
rồng uốn lượn hai bên được đúc bằng xi-măng như chào đón những ai có
duyên đến viếng chùa. Bên phải chiếc cầu gần cổng Tam quan là bức tượng
hình Hổ ngồi và bên trái là tượng Voi nằm được tạc tạo tinh vi. Ba phiến
đá tự nhiên nổi lên cao xếp thành hàng ngang ở phía trước khu Chính
điện làm nổi bật con cá Kình bằng đá tự nhiên (theo Kinh của Phật gọi là
con “ma kiệt”, một loài thủy quái được xem là hóa thân từ Phật Bà Quan
Thế Âm Bồ Tát để giúp đỡ ngư dân khi gặp nạn ở biển khơi). Nếu chui vào
từng hang đá trong khu Chính điện, du khách mới thấy hết sự trang
nghiêm của Phật đường. Mỗi hang động là mỗi vẻ đẹp tự nhiên kết hợp với
kiến trúc cổ trở nên huyền bí một cách lạ lùng.
Cổ
Thạch Tự còn là nơi giữ gìn được nhiều di sản có giá trị lịch sử, văn
hóa và nghệ thuật có sức thuyết phục lòng người. Đứng trước hàng chục
câu liễn, câu đối có niên đại cổ được khảm bằng xà cừ, chạm khắc trên
gỗ, ghép mực sành làm cho ta có cảm giác nơi đây thực sự là cảnh tiên ở
cõi trần:
“Không cốc đúc âm danh giáo địa
Xuân bôi vui thọ cổ phong nhân”.
Xuân bôi vui thọ cổ phong nhân”.
Tạm dịch là:
"Hang không người có tiếng động
Mùa xuân người xưa mi dài tuổi cao".
Mùa xuân người xưa mi dài tuổi cao".
Hoặc:
“Trống chuông mộc đã trăm lạy ba đời Phật
Đèn nhang tỏa sáng thấu chín tầng trời “
Đèn nhang tỏa sáng thấu chín tầng trời “
Biển
cả chùa Hang còn là sức hút mãnh liệt đối với những ai yêu biển. Đứng
trước biển con người bỗng dưng trở nên vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên.
Với Bãi tắm hoang sơ; bãi đá Cà Dược với những hòn cuội nhiều màu sắc
đa dạng, phong phú; Mũi Lagàn uy nghi…bao giờ cũng để lại ấn tượng khó
quên trong lòng du khách khi đã từng đến nơi đây. Về
phía Tây Nam của chùa có một eo biển khá rộng, với bãi cát vàng rực là
bãi tắm hoang sơ lý tưởng thứ hai. Theo truyền thuyết dân gian, ngày xưa
- xưa lắm, vào những đêm trăng rằm, tại nơi bãi tắm hoang vu này đã
từng có nhiều Tiên nga xuống trần tắm gội, nô đùa. Sau đó, các nàng tiên
ấy bay đến cái giếng Tiên có hình dấu chân người ở phía dưới chân chùa
Cổ Thạch uống nước, ca hát . Đến gần sáng, các nàng Tiên lại bay trở về
trời. Tên gọi Giếng Tiên có tự bao giờ không ai biết đã được kể lại và
lưu truyền cho đến hôm nay.
Cổ Thạch Tự - điểm du lịch lý tưởngKhách đến chùa Hang - Cổ Thạch Tự quanh năm. Sau khi viếng cảnh chùa, du khách thường tập trung xuống bờ biển. Chính vì thế, suốt chiều dài bãi đá con lúc nào cũng đằy ắp bóng người. Những thú vui mùa hè như tắm biển, vớt rong đuôi ngựa, nhặt bào ngư, sưu tầm đá cuội, cắm trại …có sức thu hút du khách thật sự. Mỗi người mách cho nhiều người, tốp này đến tốp kia lại đi, cứ thế mọi người bảo nhau cùng đến nơi đây tham quan, nghỉ dưỡng. Đêm ở Cổ Thạch Tự. Dưới ánh trăng vàng, du khách có thể lặng thinh lắng nghe tiếng sóng biển rì rào, thì thầm những bản tình ca muôn thuở. Và mọi người cùng tận hưởng bầu không khí trong lành, luồng gió mát rượi mang hương vị nồng nàn mặn chát của biển, dõi mắt tận khơi xa để có thể thấy được hàng nghìn chiếc đèn câu nhấp nháy trong đêm như một thành phố nổi trên mặt nước. Thật là thiếu sót nếu không nhắc đến người dân bản địa nơi đây. Nếu như cảnh vật của chùa Hang nên thơ kỳ vĩ bao nhiêu thì người dân Bình Thạnh cần cù lao động, chân chất hiền hòa bấy nhiêu và bền bỉ kiên cường, đấu tranh bất khuất chống giặc ngọai xâm. Từ thuở khai thiên lập địa đến nay, Cổ Thạch Tự đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử. Ngoài việc đạo, bước đi của chùa còn gắn với việc đời, việc nước cùng với nhân dân góp phần giải phóng quê hương. Chùa Hang còn là điểm bí mật nuôi giấu cán bộ, trong đó có nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Chính phủ. “Hang âm phủ” ở phía sau Lầu Trống (nay đã lấp kín), chính là con đường độc đạo ngầm sâu trong lòng đất có lối ra tận bờ biển đã giúp cho nhiều cán bộ cách mạng thoát khỏi nhiều trận càn quét, bắn phá của giặc trong suốt 2 thời kỳ kháng chiến. Cổ Thạch Tự đã tồn tại biết bao thế hệ, gắn với nhiều ý nghĩa về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, văn hóa và có giá trị đích thực qua mỗi thời đại khác nhau. Không những thế giờ đây, Cổ Thạch Tự còn là điểm dừng chân du lịch lý tưởng của thế hệ hôm nay và cho cả thế hệ mai sau.
Cổ Thạch Tự - điểm du lịch lý tưởngKhách đến chùa Hang - Cổ Thạch Tự quanh năm. Sau khi viếng cảnh chùa, du khách thường tập trung xuống bờ biển. Chính vì thế, suốt chiều dài bãi đá con lúc nào cũng đằy ắp bóng người. Những thú vui mùa hè như tắm biển, vớt rong đuôi ngựa, nhặt bào ngư, sưu tầm đá cuội, cắm trại …có sức thu hút du khách thật sự. Mỗi người mách cho nhiều người, tốp này đến tốp kia lại đi, cứ thế mọi người bảo nhau cùng đến nơi đây tham quan, nghỉ dưỡng. Đêm ở Cổ Thạch Tự. Dưới ánh trăng vàng, du khách có thể lặng thinh lắng nghe tiếng sóng biển rì rào, thì thầm những bản tình ca muôn thuở. Và mọi người cùng tận hưởng bầu không khí trong lành, luồng gió mát rượi mang hương vị nồng nàn mặn chát của biển, dõi mắt tận khơi xa để có thể thấy được hàng nghìn chiếc đèn câu nhấp nháy trong đêm như một thành phố nổi trên mặt nước. Thật là thiếu sót nếu không nhắc đến người dân bản địa nơi đây. Nếu như cảnh vật của chùa Hang nên thơ kỳ vĩ bao nhiêu thì người dân Bình Thạnh cần cù lao động, chân chất hiền hòa bấy nhiêu và bền bỉ kiên cường, đấu tranh bất khuất chống giặc ngọai xâm. Từ thuở khai thiên lập địa đến nay, Cổ Thạch Tự đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử. Ngoài việc đạo, bước đi của chùa còn gắn với việc đời, việc nước cùng với nhân dân góp phần giải phóng quê hương. Chùa Hang còn là điểm bí mật nuôi giấu cán bộ, trong đó có nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Chính phủ. “Hang âm phủ” ở phía sau Lầu Trống (nay đã lấp kín), chính là con đường độc đạo ngầm sâu trong lòng đất có lối ra tận bờ biển đã giúp cho nhiều cán bộ cách mạng thoát khỏi nhiều trận càn quét, bắn phá của giặc trong suốt 2 thời kỳ kháng chiến. Cổ Thạch Tự đã tồn tại biết bao thế hệ, gắn với nhiều ý nghĩa về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, văn hóa và có giá trị đích thực qua mỗi thời đại khác nhau. Không những thế giờ đây, Cổ Thạch Tự còn là điểm dừng chân du lịch lý tưởng của thế hệ hôm nay và cho cả thế hệ mai sau.
Tháp Chăm Pô Sa Nư huyền thoại
Nhóm ðền Tháp Chãm PôSaNư
tọa lạc trên ðồi Bà Nài thuộc xã Phú Hải về phía Ðông-Bắc cách Tp. Phan
Thiết khoảng 7km ðược người Chãm xây dựng từ những cuối thế kỷ IX thuộc
phong cách kiến trúc nghệ thuật Hòa Lài - một trong những phong cách
kiến trúc nghệ thuật cổ của Vương quốc Chãm-pa, mà hiện nay những ngôi
tháp này còn lại rất ít như một số phế tích ở khu thánh ðịa Mỹ Sõn, còn
lại nhóm Hòa Lai (Phan Rang) nhóm PôDam (Tuy Phong - Bình Thuận) và
tương ðối nguyên vẹn là nhóm ðền tháp PôSaNư.
Đọc Tiếp...…
PôSaNư là nhóm ðền tháp Chãm có vai trò quan trọng trong các di tích
kiến trúc Chãm ở Bình Thuận, từ hình dạng kiến trúc ðến kỹ thuật xây
dựng và trang trí nghệ thuật trên thân tháp, các vòm cuốn, các cửa
chính, cửa giả, trong lòng và lên ðến ðỉnh tháp.
Riêng kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật còn lại ở thân tháp ðủ gợi lên yếu tố thẩm mỹ khá riêng biệt của phong cách Hòa Lai.

So với những tháp Chăm khác, đến nay hàng năm vẫn có đông đảo người Chăm từ các vùng lân cận đến làm lễ cầu mưa và những nghi lễ khác liên quan đến phong tục tập quán của họ. Một điều khá lý thú nữa là đối với ngư dân những vùng lân cận truớc khi đi biển cũng đến đây cầu xin cho những chuyến đi biển được bình yên. Nhóm đền tháp Chăm PôSaNư được Nhà nước xếp hãng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1991.
Riêng kỹ thuật xây dựng và trang trí nghệ thuật còn lại ở thân tháp ðủ gợi lên yếu tố thẩm mỹ khá riêng biệt của phong cách Hòa Lai.

So với những tháp Chăm khác, đến nay hàng năm vẫn có đông đảo người Chăm từ các vùng lân cận đến làm lễ cầu mưa và những nghi lễ khác liên quan đến phong tục tập quán của họ. Một điều khá lý thú nữa là đối với ngư dân những vùng lân cận truớc khi đi biển cũng đến đây cầu xin cho những chuyến đi biển được bình yên. Nhóm đền tháp Chăm PôSaNư được Nhà nước xếp hãng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1991.
Núi Tà Cú
Núi Tà Cú nằm ở huyện Hàm Thuận Nam (Bình
Thuận. Đây là một địa chỉ du lịch hấp dẫn tất cả du khách khi đặt chân
đến miền đất nắng gió này.
Ðến Tà Cú, bạn hãy một lần thưởng thức cảm giác lâng lâng khi ngồi trên ca-bin cáp treo. Hệ thống cáp treo trên núi có công suất 700 - 1.000 khách/giờ, bình quân 7 - 10 phút/chuyến từ nhà ga dưới chân núi lên nhà ga trên đỉnh núi. Cùng với những cánh rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên, núi Tà Cú đã được xếp hạng là Khu thắng cảnh quốc gia năm 1993.
Đọc Tiếp...…
Núi
Tà Cú cao 475 m so với mặt nước biển. Từ chân núi, du khách phải leo
mấy trăm bậc mới lên tới đỉnh. Buổi sáng, khi mặt trời chưa ló rạng,
ngọn núi như được bao phủ bởi một màn khói sương trắng toát, những đụn
mây bay là là khắp các ngọn cây, phong cảnh núi rừng càng trở nên mơ
mộng và trác tuyệt. Ðứng trên đỉnh núi, du khách có thể thưởng ngoạn
cảnh sắc thiên nhiên chung quanh thật tuyệt vời và hóng gió biển thật
khỏe khoắn. Ðó là phần thưởng lớn dành cho những ai đã cất công trèo
non, tìm vui với thiên nhiên. Phía xa là bờ biển im ắng trải dài một mầu
xanh mát, những núi đá mờ ảo cùng mầu lục của khu rừng như trầm lặng
dưới áng mây trôi.
Trên đỉnh núi có một ngôi cổ tự, dân
gian gọi là chùa Tà Cú, tên chữ là Linh Sơn Trường Thọ, ẩn mình trong
khung cảnh tĩnh mịch của thiên nhiên cây cỏ, không chút bụi trần. Ðây là
ngôi cổ tự vào hàng lâu đời nhất tọa lạc tại tỉnh Bình Thuận hiện nay.
Chùa được dựng năm 1872, dưới triều Nguyễn. Vị Tổ sư khai sáng chùa là
Hòa thượng Trần Hữu Ðức (1812 - 1887). Ngài nổi tiếng với hậu thế như là
một bậc danh y đức cao vọng trọng, đã có công chữa bệnh cho Hoàng Thái
hậu Từ Dũ tại Huế và được ban sắc phong là Ðại Lão Hòa Thượng.
Xem kiến trúc chùa, du khách còn có cơ
hội ngắm tượng Phật Thích Ca nhập Niết bàn (tượng Phật nằm). Ðây là
tượng Phật nằm lớn nhất Ðông - Nam Á, dài 49 m, cao 10 m. Pho tượng do
kiến trúc sư Trương Ðình Ý chỉ đạo xây dựng và hoàn thành vào năm 1962.
Pho tượng mang phong cách kiến trúc thời xa xưa, với vẻ ngoài hình thể
mập mạp, hài hòa, cân đối. Sống mũi thẳng, gương mặt tròn đầy đặn, đượm
vẻ phúc hậu của một nhà tu hành đã thoát tục. Cách đó chừng 50 m là bộ
ba tượng Tam Thế gồm A Di Ðà, Quan Thế Âm Bồ Tát và Ðại Thế Chí. Cả ba
pho tượng có chiều cao khoảng 7m, với nét mặt hiền hòa như đang nhìn bao
quát cả thế gian như sẵn sàng cứu nhân độ thế. Sau lưng tượng Phật là
rừng nguyên sinh, xanh ngát bởi mầu lá cây rậm rạp, che kín, tạo nên một
tổng thể rừng quốc gia thiên nhiên rộng 25 nghìn ha.
Nét đặc biệt của núi Tà Cú là phong
cảnh rừng bằng lăng nở hoa tím ngắt, có nhiều cây cổ thụ hàng trăm năm
tuổi, quanh năm hoa nở tầng tầng lớp lớp. Dưới chân núi là rừng chuối,
bốn mùa xanh tươi, quả trĩu buồng. Ðặc biệt, chuối ở đây thơm ngon nổi
tiếng, do cây chuối mọc trên đá, hàm lượng bột cao, mềm, ngọt lịm. Hệ
thống nhà hàng trên núi và dưới chân núi phục vụ khách trong không khí
nhiệt thành, cởi mở của đội ngũ nhân viên bản địa.
Ðến Tà Cú, bạn hãy một lần thưởng thức cảm giác lâng lâng khi ngồi trên ca-bin cáp treo. Hệ thống cáp treo trên núi có công suất 700 - 1.000 khách/giờ, bình quân 7 - 10 phút/chuyến từ nhà ga dưới chân núi lên nhà ga trên đỉnh núi. Cùng với những cánh rừng trong khu bảo tồn thiên nhiên, núi Tà Cú đã được xếp hạng là Khu thắng cảnh quốc gia năm 1993.
Núi Tà Cú liền tuyến với Mũi Né - Hòn
Rơm - Ðồi Hồng - Ðồi Dương - Cổ Thạch tạo thành tuyến lữ hành dã ngoại ,
hào hứng cho du khách trong và ngoài nước. Vào các mùa trong năm, nhất
là những dịp Tết, xuân Tà Cú luôn tấp nập khách thập phương ngoạn cảnh.
Qua thời gian, chùa núi được bàn tay kiến tạo của con người bồi đắp dần,
để có một công trình đồ sộ nổi tiếng như ngày nay, không những chỉ
riêng tỉnh Bình Thuận mà cho cả vùng đông nam Trung Bộ.
Khánh An, ngôi chùa cổ GIỮA VÙNG DU LỊCH
Bây giờ, có dịp gặp gỡ với du khách đến Mũi Né, bà con ở đây không quên
giới thiệu về ngôi chùa có đến hàng trăm năm tuổi: chùa Khánh An. Trên
đồi cát cao rộng chừng 1,5 mẫu thuộc làng Khánh Thiện (nay là khu phố
8-Mũi Né) chùa Khánh An được nhân dân tạo dựng vào cuối thế kỷ 18 đầu
thế kỷ 19.
Đọc Tiếp...…
Ban đầu chỉ là một ngôi
chùa nhỏ, đến tháng Chín năm Quý Dậu 1873 (Tự Đức thứ 26), chùa Khánh An
được trùng tu gồm ba tòa: Chánh điện, nhà Tổ và nhà ông Giám (nay đã bị
sụp), năm 1968 chùa tu bổ nhà Tổ, năm 1993 tiếp tục trùng tu Chánh
điện, năm 1997 xây cổng Tam Quan và dựng tượng Quan Âm lộ thiên. Chùa
hiện lưu giữ một bảo chúng do Hòa thượng Đạo Hương Đức Tín đúc năm Giáp
Tuất 1814 (Gia Long thứ 13) và một đại hồng chung cao 1,2m đúc năm 1900
(Thành Thái thứ 12). Tại nội điện có trên 30 pho tượng thờ Tam Thế Phật,
Bồ Tát, Kiên Lao, Địa Tạng, Tổ sư Đạt Ma, Thập điện Diêm Vương… bằng
đồng và đất nung, tất cả đều được tạc trong khoảng cuối thế kỷ 18 đầu
thế kỷ 19. Trải qua ba đời Hòa thượng và Thượng Tọa trụ trì (đều viên
tịch) cho đến nay mặc dù chỉ có một ban hộ tự quản lý, song cung cách
thờ cúng vẫn giữ nguyên nét tín ngưỡng Phật giáo truyền thống.
Đến với chùa Khánh An, không chỉ được chiêm ngưỡng nét cổ kính của chùa mà mọi người sẽ được tịnh tâm trước cảnh trí hữu tình như chốn thiền lâm. Không chỉ là ngôi chùa cổ mà chung quanh chùa còn có nhiều cây bàng, cây bồ đề hàng trăm tuổi, có cả những cây me còn cao hơn tuổi của chùa. Đứng dưới chân tượng Quán Âm lộ thiên nhìn về phía cổng Tam Quan, thấp thoáng biển xanh rì rầm sóng vỗ. Phía sau khu chùa, là cụm chùa Ông và chùa Bà cũng được xây dựng hàng trăm năm trước theo tín ngưỡng của người Hoa. Giữa vùng du lịch Mũi Né, chùa Khánh An, một điểm viếng thăm hấp dẫn đối với du khách.
Đến với chùa Khánh An, không chỉ được chiêm ngưỡng nét cổ kính của chùa mà mọi người sẽ được tịnh tâm trước cảnh trí hữu tình như chốn thiền lâm. Không chỉ là ngôi chùa cổ mà chung quanh chùa còn có nhiều cây bàng, cây bồ đề hàng trăm tuổi, có cả những cây me còn cao hơn tuổi của chùa. Đứng dưới chân tượng Quán Âm lộ thiên nhìn về phía cổng Tam Quan, thấp thoáng biển xanh rì rầm sóng vỗ. Phía sau khu chùa, là cụm chùa Ông và chùa Bà cũng được xây dựng hàng trăm năm trước theo tín ngưỡng của người Hoa. Giữa vùng du lịch Mũi Né, chùa Khánh An, một điểm viếng thăm hấp dẫn đối với du khách.
Chùa Thạnh Lâm - nơi có Bảo tháp đẹp và chiếc chuông to nhất Bình Thuận
Chùa Thạnh Lâm tọa lạc
tại thôn Quý Thạnh xã Ngũ Phụng huyện đảo Phú Quý, có lịch sử xây dựng
vào năm 1740, thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765). Tương truyền
rằng vào thời ấy có 50 người dân quê gốc Bình Định theo đường biển vào
Phú Quý làm ăn.
Đọc Tiếp...…
Trước
một hòn đảo hoang sơ, kỳ bí, lành ít, dữ nhiều, những người dân ấy đã
lập nên đền, chùa thờ chư Phật, cầu cho tai qua nạn khỏi.
Ban đầu chùa Thạnh Lâm có diện tích bằng một căn nhà tranh nhỏ, dần dần mở rộng ra. Đến năm 1993, chùa Thạnh Lâm đã qua 3 lần trùng tu, phát triển. Ở lần trùng tu thứ 3, nhờ quyên góp và sự phát tâm cúng dường của các tín đồ Phật giáo, đặc biệt là các tín đồ quê ở Phú Quý đang làm ăn, sinh sống tại nước ngoài, chùa Thạnh Lâm có được số tiền lớn để đúc một quả chuông và xây một Bảo tháp hình lục giác trong khuôn viên chùa.
Năm 1995, chuẩn bị cho việc đúc quả chuông nặng 1,2 tấn, các nhà sư ở chùa Thạnh Lâm đã tìm đến ông Nguyễn Văn Xứng, một nghệ nhân chuyên đúc đồng ở 78 Bùi Thị Xuân, Tp. Huế, tìm hiểu mẫu chuông. Trong thời gian gần 2 năm (tính từ lúc tìm hiểu rồi ký hợp đồng) quả chuông có chiều cao 2,2 mét, dày 10cm, đường kính lớn hơn 1 mét mới được đúc xong. Trong quá trình đúc nghệ nhân đã pha một lượng nhỏ kim loại quý trong chuông vì vậy khi đánh lên âm thanh có thể vang xa trong vòng bán kính trên 15 cây số. Đã có nhiều ngư dân Phú Quý, đang đánh bắt trên biển, nhờ nghe chuông vang vọng, biết là gần sáng liền vội vã quay về cho kịp buổi chợ.
Ban đầu chùa Thạnh Lâm có diện tích bằng một căn nhà tranh nhỏ, dần dần mở rộng ra. Đến năm 1993, chùa Thạnh Lâm đã qua 3 lần trùng tu, phát triển. Ở lần trùng tu thứ 3, nhờ quyên góp và sự phát tâm cúng dường của các tín đồ Phật giáo, đặc biệt là các tín đồ quê ở Phú Quý đang làm ăn, sinh sống tại nước ngoài, chùa Thạnh Lâm có được số tiền lớn để đúc một quả chuông và xây một Bảo tháp hình lục giác trong khuôn viên chùa.
Năm 1995, chuẩn bị cho việc đúc quả chuông nặng 1,2 tấn, các nhà sư ở chùa Thạnh Lâm đã tìm đến ông Nguyễn Văn Xứng, một nghệ nhân chuyên đúc đồng ở 78 Bùi Thị Xuân, Tp. Huế, tìm hiểu mẫu chuông. Trong thời gian gần 2 năm (tính từ lúc tìm hiểu rồi ký hợp đồng) quả chuông có chiều cao 2,2 mét, dày 10cm, đường kính lớn hơn 1 mét mới được đúc xong. Trong quá trình đúc nghệ nhân đã pha một lượng nhỏ kim loại quý trong chuông vì vậy khi đánh lên âm thanh có thể vang xa trong vòng bán kính trên 15 cây số. Đã có nhiều ngư dân Phú Quý, đang đánh bắt trên biển, nhờ nghe chuông vang vọng, biết là gần sáng liền vội vã quay về cho kịp buổi chợ.
Trong
thời gian chuyển chuông từ Huế về đến chùa, Thạnh Lâm cũng tiến hành
xây Bảo tháp. Đến đầu tháng 4 năm nay, Bảo tháp lục giác đã hoàn thành,
gồm 7 tầng, 8 nóc; chiều cao từ đáy lên đến đỉnh 21 mét. Ở mỗi nóc của
mỗi tầng đều có gắn những con rồng theo kiểu rồng trong các lăng tẩm của
các vua nhà Nguyễn trên đất kinh thành (Huế), và đều do những người thợ
xây dựng gốc Huế tạo tác.
Mỗi tầng có chức năng thờ riêng, cũng như là nơi để trưng bày kinh sách nhà Phật. Bảo tháp lục giác cùng với tháp chuông tạo thành hai công trình kiến trúc mang tính nghệ thuật của chùa Thạnh Lâm. Hiện nay chuông chùa Thạnh Lâm được xác định là to nhất trong số chuông các chùa ở Bình Thuận. Nó nặng hơn 200 kg so với chuông của chùa Phật Quang phường Hưng Long (Phan Thiết) vốn đã to. Mẫu chuông chùa Thạnh Lâm ngay sau đó đã được các nghệ nhân dùng đúc chiếc chuông nặng 1 tấn ở đền Bến Dược huyện Củ Chi (Tp. HCM).
Mỗi tầng có chức năng thờ riêng, cũng như là nơi để trưng bày kinh sách nhà Phật. Bảo tháp lục giác cùng với tháp chuông tạo thành hai công trình kiến trúc mang tính nghệ thuật của chùa Thạnh Lâm. Hiện nay chuông chùa Thạnh Lâm được xác định là to nhất trong số chuông các chùa ở Bình Thuận. Nó nặng hơn 200 kg so với chuông của chùa Phật Quang phường Hưng Long (Phan Thiết) vốn đã to. Mẫu chuông chùa Thạnh Lâm ngay sau đó đã được các nghệ nhân dùng đúc chiếc chuông nặng 1 tấn ở đền Bến Dược huyện Củ Chi (Tp. HCM).
Được
biết, ngoài chiếc chuông nặng kể trên, chùa Thạnh Lâm còn có 1 chiếc
chuông nhỏ mà theo những sư thầy kể lại có từ khi thành lập chùa (?).





























