Home » dac san tanh linh
Bánh tổ - hương vị quê nhà (Người Quảng ở Tánh Linh)
Không biết từ bao giờ, hễ nhắc đến món ngon xứ Quảng là
người ta nghĩ ngay đến mì Quảng, … Còn trong dân gian lại truyền tụng
nhiều câu vè về những món ăn đặc sản: “Nem chả Hòa Vang – Bánh tổ Hội An
– Khoai lang Trà Kiệu – Thơm rượu Tam Kỳ” hay như “Bánh tét, bánh tổ -
bánh nổ, bánh in”… Đấy là những món ăn truyền thống lâu đời trong mỗi
dịp Tết đến của người dân xứ Quảng.
Song, trên bàn thờ đêm 30, không phải món nào cũng được dâng lên
tổ tiên tưởng nhớ cội nguồn. Món mặn, người ta chỉ chọn tô mì Quảng
hoặc đĩa xôi; món bánh thì bánh tổ hiển nhiên không thể thiếu được.
Cái tên bánh tổ không biết có tự bao giờ, chỉ nghe đến thôi là đã gợi dậy niềm thành kính hướng về quá khứ. Bánh tổ chỉ xuất hiện vào dịp Tết chứ ngày thường không có. Bánh tổ có màu nâu sẫm như màu đất, đổ trong khuôn dày, hình vuông, chính là biểu tượng "trời tròn đất vuông" trong nếp nghĩ của người dân. Có một truyền thuyết kể lại rằng, bánh này vốn do tổ mẫu Âu Cơ làm ra, đến ngày chia tay phát cho trăm con lên núi xuống biển làm lương khô dọc đường.
Cũng như các loại bánh mứt khác, bánh tổ được nấu trước Tết khoảng một tuần. Đây không phải loại bánh nấu ra là ăn ngay mà phải để một thời gian sau cho “ngấm”, khi đó bánh mới đậm đà, vị ngọt bùi sẽ tăng lên. Nguyên liệu chính của bánh là đường và bột nếp; mà phải là loại đường bát nấu từ mật mía, đặc sản Quảng Nam, màu nâu đà hay đen sẫm đều được. Người nấu bánh chọn nếp rất kỹ, phải là loại nếp hạng nhất, hạt mẩy đều tròn bóng thì mới dẻo và thơm. Thêm hai thứ phụ liệu không thể thiếu là hạt mè và gừng. Mè trắng khô đãi sạch, phơi hai đợt nắng rồi đem vào rang đều tay sao cho không ngả sang màu vàng. Gừng giã nhuyễn gạn lấy nước.
Đường bát “thắng” vừa tới, không để “già” quá, sau đó lọc kỹ nhằm loại bỏ tạp chất. Nếp xay nhuyễn thành bột. Bột nếp và đường được nhào kỹ, thêm vào chút nước gừng cho thơm. Lá chuối hoặc lá dong khô đem lau sạch, cắt từng tấm vừa hay nhỏ tùy ý rồi lót xung quanh khuôn. Ngoài ra, để bánh đẹp, vuông vức sắc sảo hơn, người ta dùng lá dừa gập lại nhiều vòng lót bánh. Khuôn bánh làm bằng nan tre đan thành “rọ”, thường thì hình vuông nhưng cũng có khi hình tròn, có đường kính chừng 10 - 15cm. Đánh hỗn hợp bột đường đến độ sền sệt mới đem đổ vào khuôn, dùng tăm tre ghim kín các mép lá để bột khỏi chảy ra ngoài. Sau đó đổ xâm xấp nước vào nồi nấu bánh chuyên dụng, đặt tấm vỉ tre cách mặt nước khoảng 5 - 8cm. Xếp bánh sống lên trên vỉ, đun lửa thật to. Bánh chín chủ yếu nhờ sức nóng của hơi nước trong nồi, người nấu bánh lâu năm có kinh nghiệm “canh” thời gian rất hay: cứ hấp chín 20 cái bánh thì cháy hết 3 cây nhang.
Bánh sau khi hấp chín được vớt ra. Lúc này mè mới được rắc đều lên bề mặt bánh. Để chừng 3 – 4 phút cho bánh nguội rồi đem cất nơi thoáng mát. Người kỹ tính còn mang bánh ra phơi nắng cho đến khi bánh khô cứng. Tuy vậy, bánh tổ ngon là bánh không cứng quá hay nhão quá, khi cắt ra bột không bết vào dao. Bánh tổ Quảng Nam có thể giữ được lâu ngày mà không sợ bốc mùi ẩm mốc; ngược lại càng để lâu, bánh càng dẻo dai, hương vị càng đậm đà. Điều này phụ thuộc vào bí quyết riêng của người làm bánh tổ xứ Quảng.
Ra Giêng, món bánh tổ chiên được ưa chuộng bậc nhất. Con gái, con trai đi học xa nhà đều nhớ cất riêng vài ba cái mang vào trường làm quà cho bạn bè. Cả bọn xúm nhau bên chảo dầu nóng, thả từng miếng bánh dẻo thơm vào. Bánh nở phồng mềm nhũn tỏa mùi béo ngậy. Càng ngon hơn khi có thêm vài tấm bánh tráng nướng kẹp vào.
Ngày Tết xa quê, bà con Quảng Nam ở đất khách đều tự tay làm bánh tổ cúng ông bà. Nhớ đến món bánh tổ truyền thống âu cũng chính là nhớ về nguồn cội làng quê vậy.
Cái tên bánh tổ không biết có tự bao giờ, chỉ nghe đến thôi là đã gợi dậy niềm thành kính hướng về quá khứ. Bánh tổ chỉ xuất hiện vào dịp Tết chứ ngày thường không có. Bánh tổ có màu nâu sẫm như màu đất, đổ trong khuôn dày, hình vuông, chính là biểu tượng "trời tròn đất vuông" trong nếp nghĩ của người dân. Có một truyền thuyết kể lại rằng, bánh này vốn do tổ mẫu Âu Cơ làm ra, đến ngày chia tay phát cho trăm con lên núi xuống biển làm lương khô dọc đường.
Cũng như các loại bánh mứt khác, bánh tổ được nấu trước Tết khoảng một tuần. Đây không phải loại bánh nấu ra là ăn ngay mà phải để một thời gian sau cho “ngấm”, khi đó bánh mới đậm đà, vị ngọt bùi sẽ tăng lên. Nguyên liệu chính của bánh là đường và bột nếp; mà phải là loại đường bát nấu từ mật mía, đặc sản Quảng Nam, màu nâu đà hay đen sẫm đều được. Người nấu bánh chọn nếp rất kỹ, phải là loại nếp hạng nhất, hạt mẩy đều tròn bóng thì mới dẻo và thơm. Thêm hai thứ phụ liệu không thể thiếu là hạt mè và gừng. Mè trắng khô đãi sạch, phơi hai đợt nắng rồi đem vào rang đều tay sao cho không ngả sang màu vàng. Gừng giã nhuyễn gạn lấy nước.
Đường bát “thắng” vừa tới, không để “già” quá, sau đó lọc kỹ nhằm loại bỏ tạp chất. Nếp xay nhuyễn thành bột. Bột nếp và đường được nhào kỹ, thêm vào chút nước gừng cho thơm. Lá chuối hoặc lá dong khô đem lau sạch, cắt từng tấm vừa hay nhỏ tùy ý rồi lót xung quanh khuôn. Ngoài ra, để bánh đẹp, vuông vức sắc sảo hơn, người ta dùng lá dừa gập lại nhiều vòng lót bánh. Khuôn bánh làm bằng nan tre đan thành “rọ”, thường thì hình vuông nhưng cũng có khi hình tròn, có đường kính chừng 10 - 15cm. Đánh hỗn hợp bột đường đến độ sền sệt mới đem đổ vào khuôn, dùng tăm tre ghim kín các mép lá để bột khỏi chảy ra ngoài. Sau đó đổ xâm xấp nước vào nồi nấu bánh chuyên dụng, đặt tấm vỉ tre cách mặt nước khoảng 5 - 8cm. Xếp bánh sống lên trên vỉ, đun lửa thật to. Bánh chín chủ yếu nhờ sức nóng của hơi nước trong nồi, người nấu bánh lâu năm có kinh nghiệm “canh” thời gian rất hay: cứ hấp chín 20 cái bánh thì cháy hết 3 cây nhang.
Bánh sau khi hấp chín được vớt ra. Lúc này mè mới được rắc đều lên bề mặt bánh. Để chừng 3 – 4 phút cho bánh nguội rồi đem cất nơi thoáng mát. Người kỹ tính còn mang bánh ra phơi nắng cho đến khi bánh khô cứng. Tuy vậy, bánh tổ ngon là bánh không cứng quá hay nhão quá, khi cắt ra bột không bết vào dao. Bánh tổ Quảng Nam có thể giữ được lâu ngày mà không sợ bốc mùi ẩm mốc; ngược lại càng để lâu, bánh càng dẻo dai, hương vị càng đậm đà. Điều này phụ thuộc vào bí quyết riêng của người làm bánh tổ xứ Quảng.
Ra Giêng, món bánh tổ chiên được ưa chuộng bậc nhất. Con gái, con trai đi học xa nhà đều nhớ cất riêng vài ba cái mang vào trường làm quà cho bạn bè. Cả bọn xúm nhau bên chảo dầu nóng, thả từng miếng bánh dẻo thơm vào. Bánh nở phồng mềm nhũn tỏa mùi béo ngậy. Càng ngon hơn khi có thêm vài tấm bánh tráng nướng kẹp vào.
Ngày Tết xa quê, bà con Quảng Nam ở đất khách đều tự tay làm bánh tổ cúng ông bà. Nhớ đến món bánh tổ truyền thống âu cũng chính là nhớ về nguồn cội làng quê vậy.
Khoai chà xứ Quảng
Nếu ai đã từng một lần đến Quảng Nam và được thưởng thức món
khoai chà dân dã có một không hai nơi mảnh đất đầy nắng và gió này thì
khi xa rồi sẽ nhớ mãi không thôi.
Khách phương xa đến Quảng Nam giữa tiết trời tháng
sáu oi ả với gió nam hây hây thổi và không khí khô khốc, khắc nghỉệt,
thật không dễ gì thích nghi ngay được. Nhưng với nông dân tại một số
vùng trung du như Quế Sơn, Duy Xuyên, Thăng Bình, ...thì đây chính là
thời điểm thích hợp nhất để thu hoạch khoai và làm khoai chà. Làm khoai
chà mà trời không nắng giòn thì món khoai ấy sẽ không thể nào thơm ngon
được.
Khoai là một trong những cây lương thực chính tại
Quảng Nam. Khoai được chế biến thành những loại lương thực khô như xắt
lát phơi khô, khoai ngào đường, bánh khoai nướng... và không thể thiếu
món khoai chà quen thuộc.
Khoai sau khi luộc chín được để nguội rồi cho vào cối
giã nhỏ. Tiếp theo, dùng rổ thưa chà cho bột khoai rơi xuống chiếc nong
bên dưới. Có lẽ chính động tác chà này tạo nên tên gọi khoai chà cho
món ăn. Sau khi phơi nắng tốt, người ta sàng bột khoai khô để phân chia
thành hai loại khoai chà. Loại bột trên sàng là khoai chà hạt lớn. Loại
bột mịn rơi xuống nia là khoai chà hạt nhỏ. Mỗi loại được để riêng vào
hũ sành, bảo quản ăn dần quanh năm. Khoai chà có vị ngọt dịu, thơm của
khoai, nồng nàn hương nắng gió miền Trung. Khoai chà lớn khi ăn phải sú
nước. Thêm một lượng nước ấm vừa đủ, chờ vài phút cho khoai nở rồi mới
ăn. Khoai chà nhỏ thì không cần thêm nước. Người Quảng thường thêm đường
vào khoai chà nhỏ và đậu phộng rang giã nhỏ vào khoai chà lớn (sau khi
sú nước) để món ăn thêm thơm ngon và nhiều hương vị. Ngoài ra, mọi người
thường hái vài chiếc lá mít trong vườn nhà thay thìa xúc khi ăn. Khoai
chà đã lạ mà cách ăn khoai chà bằng lá mít lại càng lạ hơn. Bẻ cong lá
mít, xúc một miếng khoai chà rồi từ từ cảm nhận hương thơm của lá mít,
sau đó nhai thật nhỏ từng hạt khoai, những hạt tinh bột vỡ ra, đọng lại
trên lưỡi. Người ăn sẽ dễ dàng cảm nhận được những hương vị ngọt ngào
của khoai, nồng nàn của nắng gió quyện lẫn vào nhau, vừa dân dã, thanh
tao lại thật gần gũi với thiên nhiên.
Người Quảng ăn khoai chà mọi lúc, mọi nơi: ăn diểm
tâm, ăn nửa buổi, ăn chiều, ăn khuya hay mang ra mời bạn như một món quà
quê dân dã khi bạn đến thăm nhà. Khoai chà còn được các bác nông dân
mang ra đồng hay lên nương rẫy ăn vào giờ nghỉ ngơi giữa buổi làm, vừa
ngon, rẻ, lại no bụng.
Khoai chà còn là món quà quê không thể thiếu trong
hành lý của bao thế hệ sinh viên Quảng Nam những ngày đi học xa nhà. Tuy
mộc mạc và dân dã vậy nhưng lại được nhiều bạn bè khắp các miền đất
nước yêu thích và luôn dặn dò mỗi khi có bạn Quảng về thăm quê: "Bồ nhớ
mang vài ký khoai chà làm quà cho tụi mình nhé”








